*Thể chế nhà nước- Theo thể chế Cộng hòa dân chủ nghị viện, liên bang (từ năm 1950), chế độ lưỡng viện.
Hiến pháp thông qua ngày 25 tháng Giêng năm 1950.
Có 28 bang và 7 vùng lãnh thổ trực thuộc trung ương, mỗi bang đều có cơ cấu lập pháp riêng. Thượng nghị viện của Nghị viện liên bang là Hội đồng Nhà nước, gồm 245 thành viên, trong đó 8 thành viên do Tổng thống bổ nhiệm, 237 thành viên được quốc hội các bang bầu. Hai năm một lần, 1/3 số thượng nghị sỹ miễn nhiệm. Hạ nghị viện gồm 543 thành viên được bầu bằng tuyển cử phổ thông đầu phiếu nhiệm kỳ 5 năm, và hai thành viên thuộc cộng đồng Ăng-lô-In-điêng do Tổng thống bô nhiệm.Tổng thống được cử đoàn của Nghị viện liên bang và Quốc hội của các bang bầu. Tổng thống bổ nhiệm Thủ tướng và các thành viên cửa Nội các. Thủ tướng điều hành Nội các.
*Địa lý - Nằm Ở Nam Dãy núi Hy-ma-lay-a ngăn cách tiểu lục địa Ấn Độ với phần còn lại của châu Á. Một số đỉnh của dãy Hy-ma-lay-a cao hơn 7000 m, trong đó có đỉnh cao nhất của Ấn Độ là Kang-chen-un-ga, 8.598 m. Phía nam của dãy Hy-ma-lay-a là các lưu vực của sông Hàng, sông Bra-ma-pu-ơ-ra và các vùng chi lưu của các sông này. Đây là những đồng bằng phì nhiêu, dân cư đông đúc và có trình độ canh tác thuần thục. Sa mạc Tha chạy dọc biên giới với Pa-ki-xtan. Phía nam Ấn Độ là cao nguyên đá cứng Đéc-ca-ni tiếp giáp với dải đồi Gát-xơ hạ thấp dần thành đồng bằng Ở ven biển. Thực vật đa dạng, từ rừng ma nhiệt đới ở bờ biển phía tây, rừng gió mùa ở đông-bắc thuộc vùng xa phía nam cho đến rừng cây bụi, cây gai Ở cao nguyên Đéc-can và thực vật núi cao, thảm thực vật ôn đới ở vùng núi cao của dãy Hy-ma-lay-a.
Các sông chính Sông Hằng, 2.510 km; sông Bra-ma-pu-tơ-ra, 2.900 km; sông Sút-lê, 1.450 km; sông Y-a-mu-la, 1.376 km; sông Gô-đa-va-ri, 1.450 km; sông Giam-na 1.380 km.
Khí hậu: Khí hậu chia thành 3 mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng Ba đến tháng Sáu, mùa mưa từ tháng Sáu đến tháng Mười (khi gió mùa tây-nam đã về một lượng mưa lớn), và mùa lạnh khô từ tháng Mười một đến tháng Ba. Dãy Hy-ma-lay-a có nhiệt độ thấp và tăng cao dần khi chuyển xuống miền nam; nhiệt độ trung bình tháng Giêng từ 150C đến 270C; tháng Năm từ 280C đến 300C.
Kinh tế - Công nghiệp chiếm 29,1%, nông nghiệp: 17,2% và dịch vụ: 53,7% GDP
2/3 lực lượng lao động làm nông nghiệp. Lúa nước và lúa mì là các cây lương thực chính. Cây công nghiệp ngày càng được trồng nhiều tại các đồn điền lớn, gồm có chè, bông gai, mía... Đây là những sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu chủ yếu. Ma theo mùa và thủy lợi giúp cho việc canh tác, nhưng hạn hán và lũ lụt vẫn thường xuyên xảy ra. Ấn Độ là một trong 10 cường quốc công nghiệp trên thế giới. Nơi trữ lượng than tương đối lớn là cơ sở năng lượng cho công nghiệp, Ấn Độ còn có kim cương, bô-xít, ti-tan, đồng và sắt. Ấn Độ cũng có trữ lượng đáng kể dầu mỏ và khí tự nhiên. Các ngành dệt, sản xuất xe cộ, sắt, thép, dược liệu và ngành điện có đóng góp quan trọng cho nền kinh tế Ấn Độ còn là một trong những cường quốc sản xuất và xuất khẩu phần mềm máy tính có tín nhiệm. Là một trong ba cường quốc hạt nhân ở châu Á Trong những năm Ấn Độ đã tiến hành hai cuộc cách mạng trong nông nghiệp "Cách mạng xanh (từ năm 1965) và "Cách mạng trắng" (nuôi trâu, bò đẻ lấy sữa từ năm 1970). Hai cuộc cách mạng này đã đem lại kết quả to lớn, biến Ấn Độ từ một nước đông dân, đói nghèo, thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo trên thế giới (sản lượng gạo năm 1965 đạt 72,35 triệu tấn. Năm 1990 đã đạt sản lượng lên 176 triệu tấn); sản xuất sữa năm 2000 đã đạt 70 triệu tấn, vượt Mỹ - 67 triệu tấn. Tuy nhiên Ấn Độ gặp phải những khó khăn trong thanh toán quốc tế và phải dựa vào viện trợ nước ngoài để phát triển. Trên 1/3 dân số sống trong nghèo dói. Các cải cách trong những năm 90 đã giảm thiểu vai trò của nhà nước trong một số lĩnh vực kinh tế. Sản xuất điện năng đạt 665 tỷ kWh, trong đó nhiệt điện: 81,7% thủy điện: 14,5%; điện nguyên tử: 3,4%, nguồn khác 0,3% ;
Năm 2009-2010, xuất khẩu đạt 164,3 tỷ USD, nhập khẩu: 268,4 tỷ USD; FDI đạt 27,5 tỷ USD, dự trữ ngoại tệ 31/10/2009 là 274,7 tỷ USD, nợ nước ngoài 31/12/2009 là 223,9 tỷ USD, khách du lịch nước ngoài 1-12/2009 đạt 5,8 triệu người.
Văn hóa:
Ấn Độ có một di sản văn hóa phong phú và đặc trưng duy nhất, và họ luôn tìm cách giữ gìn những truyền thống của mình trong suốt thời kỳ lịch sử trong khi vẫn hấp thu các phong tục, truyền thống và tư tưởng từ phía cả những kẻ xâm lược và những người dân nhập cư. Nhiều hoạt động văn hoá, ngôn ngữ, phong tục và các công trình là những ví dụ cho sự đan xen văn hóa qua hàng thế kỷ đó. Những công trình nổi tiếng như Taj Mahal và các công trình kiến trúc có ảnh hưởng Hồi giáo là di sản từ triều đại Mughal. Chúng là kết quả của một truyền thống hợp nhất mọi yếu tố từ mọi phần của quốc gia.
Âm nhạc Ấn Độ được thể hiện ở rất nhiều hình thức. Hai hình thức chính của âm nhạc cổ điển là Carnatic từ Nam Ấn, và Hindustani từ Bắc Ấn. Các hình thức phổ thông của âm nhạc cũng rất phổ biến, nổi tiếng nhất là âm nhạc Filmi. Ngoài ra còn có nhiều truyền thống khác nhau về âm nhạc dân gian từ mỗi nơi trên đất nước. Có nhiều hình thức nhảy múa cổ điển hiện diện, gồm Bharatanatyam, Kathakali, Kathak và Manipuri. Chúng thường ở hình thức tường thuật và lẫn với những yếu tố sùng đạo và tinh thần. Truyền thống văn học sớm nhất Ấn Độ là hình thức truyền miệng, và sau này mới ở hình thức ghi chép. Đa số chúng là các tác phẩm linh thiêng như (kinh) Vedas và các sử thi Mahabharata và Ramayana. Văn học Sangam từ Tamil Nadu thể hiện một trong những truyền thống lâu đời nhất Ấn Độ. Đã có nhiều nhà văn Ấn Độ hiện đại nổi tiếng, cả với các tác phẩm bằng tiếng Ấn Độ và tiếng Anh. Nhà văn Ấn Độ duy nhất đoạt giải Nobel văn học là nhà văn dùng tiếng Bengal Rabindranath Tagore. Ấn Độ cũng là nước sản xuất ra số lượng phim hàng năm cao nhất thế giới. Vùng sản xuất chính nằm tại Mumbai, cho ra lò hầu như tất cả phim thương mại Ấn Độ, thường được gọi là "Bollywood". Cũng có một số lượng lớn tác phẩm điện ảnh sử dụng tiếng Kannada, tiếng Malayalam, tiếng Tamil, tiếng Telugu và tiếng Bengal.
Các hoạt động tôn giáo theo nhiều đức tin khác nhau là một phần không thể thiếu trong đời sống xã hội. Giáo dục được coi trọng bởi mọi thành viên ở mọi giai cấp. Các giá trị gia đình truyền thống Ấn Độ đã phát triển để đạt tới một hệ thống gia đình hạt nhân, bởi vì những hạn chế về kinh tế xã hội của hệ thống gia đình liên kết truyền thống cũ. Tôn giáo ở Ấn Độ là một vấn đề công cộng, với nhiều hoạt động đã trở thành phô trương tráng lệ và cùng với nó là sự sút giảm các giá trị tinh thần.
Ẩm thực Ấn Độ rất đa dạng, về thành phần, hương vị và cách chế biến khác biệt theo từng vùng. Gạo và bột mì là hai thực phẩm chính của nước này. Ấn Độ nổi tiếng về số lượng các món chay và không chay. cuisine. Thực phẩm nhiều gia vị và đồ ngọt rất phổ biến ở Ấn Độ. Trang phục truyền thống tại Ấn Độ khác biệt rát lớn theo từng vùng về màu sắc và kiểu dáng, và phụ thuộc trên nhiều yếu tố, bao gồm cả khí hậu. Các kiểu trang phục dân dã gồm sari truyền thống cho phụ nữ và dhoti truyền thống cho nam giới.
Môn thể thao được ưa chuộng nhất Ấn Độ là hockey trên cỏ, dù cricket hiện trên thực tế là một môn thể thao quốc gia, đặc biệt phía đông bắc, bóng đá là môn thể thao dân dã nhất và được theo dõi đông đảo. Những năm gần đây tennis cũng trở nên phổ biến ở Ấn Độ. Ấn Độ cũng nổi tiếng về cờ vua, với những kỳ thủ ở tầm vóc quốc tế như Vishwanathan Anand. Các môn thể thao truyền thống địa phương như kabaddi và gilli-danda, được thi đấu ở hầu hết mọi nơi trong nước.
Những ngày nghỉ lễ:
Ấn Độ cũng được biết tới là một đất nước của các lễ hội. Vì là quốc gia đa tôn giáo, Ấn Độ có các lễ hội rất đa dạng, nhiều lễ hội dành cho mọi thành phần xã hội. Các lễ hội nổi tiếng và có nhiều người tham gia nhất gồm các lễ hội Hindu tại Diwali, Holi, Pongal và Dussehra và lễ hội của người Hồi giáo tại Eid.
Một số lễ hội được tổ chức ở đa phần đất nước; tuy nhiên, chúng được gọi theo những cái tên khác nhau tùy theo vùng hay có thể được tổ chức dưới hình thức khác biệt. Mọi lễ hội đều được chào mừng theo một kiểu duy nhất.
Ấn Độ có ba ngày lễ quốc gia. Những ngày lễ khác, từ chín đến mười hai, gắn liền với các lễ hội, ngày lễ tôn giáo và ngày sinh các lãnh đạo được quy định theo từng bang.